Vài suy nghĩ nhân ngày giỗ tổ Hùng Vương 10/3 24/04/2018

“Dù ai đi ngược về xuôi
Nhớ ngày giỗ tổ mùng mười tháng ba”
Là người Việt Nam hẳn  ai cũng biết câu ca dao này. Nhưng có bao giờ chúng ta tự hỏi tại sao ông tổ người Việt lại chết vào ngày mùng 10 tháng 3 mà không phải là những ngày khác? “ông tổ” chết đúng ngày mùng 10 tháng 3 ấy là ai? Chẳng ai có thể trả lời được câu hỏi ấy. Mà thật vậy, khó có thể biết được ông tổ được làm lễ giỗ ngày mùng 10/3 là ai trong số 18 ông vua Hùng, hay có phải là ông bố đẻ ra ông vua Hùng đầu tiên là Lạc Long Quân? Tất cả những gì cúng ta có được đều nằm trong các câu chuyện truyền thuyết, cổ tích được viết lại từ sau thế kỷ XIV.
Những gì chúng ta được biết rằng Lạc Long Quân là con của Kinh Dương Vương, hậu duệ của Viêm Đế bên Trung Quốc lấy cháu gái của mình là Âu Cơ sinh ra 100 trứng nở ra 100 người con trai, sau đó hai người li thân, mỗi người dẫn một nửa lên rừng một nửa xuống biển, người con trai cả theo mẹ lên xưng vương vùng đất Phong Châu, Bạch Hạc gọi là Hùng Vương (1). Sự sinh nở khác thường này khiến tôi liên tưởng đến “tín ngưỡng phồn thực” (sinh sôi nảy nở) vốn rất phổ biến của người Việt vùng đồng bằng sông Hồng, đặc biệt ở những vùng “xứ Đoài” (trong đó có Phú Thọ) mà ngày nay còn sót lại lễ hội Trò Trám (linh tinh tình phộc) cách đền Hùng chưa đến hai chục cây số đang được đưa vào di sản văn hóa phi vật thể cấp Quốc gia. Mặt khác, chiếc bánh chưng bánh dày được cho là do vua Hùng thứ bảy Lang Liêu chế ra biểu tượng của “trời tròn đất vuông” cũng là một trong những đặc trưng riêng của tín ngưỡng phồn thực bởi lẽ chiếc bánh dày trông giống sinh thực khí nữ (yoni) còn “bánh chưng” ban đầu chính là “bánh tét” giống sinh thực khí nam (linga) ngày nay ở miền Nam dù cho ý nghĩa ít nhiều đã có thay đổi.
Về ngày giỗ tổ mùng 10/3 âm lịch hằng năm, trước thế kỷ XX không có tài liệu nào ghi chép về ngày này cả nên chắc chắn trước thế kỷ XX người ta không có Quốc giỗ như ngày nay. Một thông tin thú vị chúng tôi được biết rằng đầu năm 1917, Tuần phủ Lê Trung Ngọc làm bản tấu trình với Bộ Lễ xin định lệ hàng năm lấy ngày 10 tháng 3 âm lịch để nhân dân cả nước kính tế Quốc Tổ Hùng Vương (Giỗ tổ Hùng Vương). Trong những năm làm Tuần phủ Phú Thọ (1915 – 1921) Lê Trung Ngọc đã giành nhiều tâm huyết và công sức tu bổ, tôn tạo đền thờ Quốc Tổ Hùng Vương. “Ông nhận thấy tại xã Hy Cương, phủ Lâm Thao có Lăng miếu thờ phụng Quốc Tổ Hùng Vương, hàng năm nhân dân cả nước nô nức tìm đến lễ bái; họ thường tự chọn ngày tốt theo bản mệnh từng người vào các tháng trong suốt cả năm, tập trung vào mùa xuân và mùa thu chứ không định rõ ngày nào, trong khi tục lệ của dân bản xã lại lấy ngày 11 tháng 3 âm lịch hàng năm kết hợp với thờ Thổ kỳ làm lễ tế Tổ tại Hùng Vương Tổ miếu. Như vậy thời gian lễ bái duy trì kéo dài triền miên, vừa tốn kém tiền của, lãng phí thời gian lại vừa phân giảm lòng thành kính, sự trang nghiêm tri ân công đức các Vua Hùng. Đầu năm 1917, ông làm bản tấu trình với Bộ Lễ xin định lệ hàng năm lấy ngày 10 tháng 3 âm lịch để nhân dân cả nước kính tế Quốc Tổ Hùng Vương, trước một ngày so với ngày hội tế của dân xã bản hạt, đồng thời cũng xin miễn trừ các khoản đóng góp của nhân dân địa phương vào các kỳ tế lễ mùa thu. Ngày 25 tháng 7 năm 1917 (Niên hiệu Khải Định năm thứ nhất), Bộ Lễ ban hành công văn phúc đáp và chính thức định lệ ngày quốc tế / quốc lễ – Giỗ Tổ Hùng Vương là ngày mồng 10 tháng 3 âm lịch và quy định nghi thức, nghi lễ, lễ vật tế Tổ hàng năm (2). Công văn của Bộ Lễ như sau: “các vị ở phủ viện đường đại nhân tỉnh Phú Thọ cùng nhau tuân thủ” điều sau đây: “Xã Hy Cương, phủ Lâm Thao có lăng miếu phụng thờ Hùng Vương ở núi Hùng, trải các năm, cả nước đến tế, thường lấy kỳ mùa thu, chọn vào ngày tốt làm lễ, chưa có việc định rõ ngày, mà tục lệ của dân xã đó, lấy ngày 11 tháng Ba, kết hợp với thờ thổ kỳ, làm lễ riêng… (sự thể này dẫn tới chỗ) thường hứng bất kỳ, hội họp cũng lãng phí theo sở thích, còn lòng thành thì bị kém đi… (Vì thế) cẩn thận định lại rằng, từ nay về sau, lấy ngày mồng Mười tháng Ba, lĩnh tiền chi vào việc công, phụng mệnh kính tế trước một ngày so với ngày hội tế của bản hạt, khiến nhân sĩ mọi miền đến đây có nơi chiêm bái…”. Phần thứ hai của công văn quy định nghị lễ cúng tế hàng năm: “Nay phụng mệnh theo Bộ Lễ, chuẩn định ngày quốc tế tại miếu Tổ Hùng Vương là ngày mồng Mười tháng Ba. Chiều ngày mồng Chín tháng Ba hằng năm, các quan liệt hiến trong tỉnh, cùng các quan viên trong cả phủ huyện của tỉnh, đều phải mặc phẩm phục, tề tựu túc trực tại nhà công quán. Sáng hôm sau, tới miếu kính tế…” (3). Bia “Hùng miếu điển lệ bi” được Hội đồng kỷ niệm tỉnh Phú Thọ lập và dựng tại đền Thượng – Khu di tích Đền Hùng mùa xuân năm Quý Hợi, niên hiệu Khải Định năm thứ 8 (năm 1923), đã ghi lại sự kiện lịch sử quan trọng này. Tên tuổi quan Tuần phủ Lê Trung Ngọc kể từ đó được sử sách ghi chép với tư cách ông là tác giả của việc định lệ Giỗ Tổ Hùng Vương vào ngày 10 tháng 3 âm lịch hàng năm.” (2). Như vậy thì “ngày mùng 10/3” được nhà nước công nhận là ngày Quốc giỗ vào tháng 7/1917 thì ngày giỗ Quốc tổ đầu tiên chính thức vào ngày 10/3/1918, tức là hai năm nữa (2018) chúng ta sẽ kỷ niệm tròn 100 này giỗ Quốc tổ.
Một hiện tượng thú vị được ghi lại trên các báo rằng trước và sau ngày Quốc giỗ (10/3) chắc chắn sẽ có mưa gọi là “mưa rửa đền” với ý nghĩa linh thiêng rửa sạch các bùn đất do khách hành hương mang tới làm cho bẩn thỉu nhếch nhác. Do vậy những cơn mưa rào của thiên nhiên có tác dụng rửa sạch những bụi bẩn đó để trả lại sự sạch sẽ linh thiêng cho các đền miếu (3). Tuy nhiên việc này chỉ là sự “trùng hợp ngẫu nhiên” dưới góc độ khí tượng, khí hậu, ông Lê Thanh Hải, Phó Giám đốc Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn T.Ư cho biết là thông thường cứ vào khoảng ngày 7/3, 8/3, 9/3 và các ngày 11/3, 12/3 và 13/3 (âm lịch) trời rất hay đổ mưa. Mưa trước và sau lễ hội có năm to, năm nhỏ, nhưng ít khi nào không mưa. Các cơn mưa này thường có chung một đặc điểm là mưa rào, diễn ra rất nhanh, sau đó tạnh ngay chứ không kéo dài mấy ngày liền như mưa phùn. Ông phân tích rằng ngày giỗ Tổ 10/3 âm lịch các năm thường rơi vào tháng 4 dương lịch. Đối với miền Bắc, tháng 4 là tháng thường có mưa nhiều, số ngày có mưa rào và dông trung bình tại Việt Trì lên đến 14 – 15 ngày (xác suất có mưa lên đến 50%). Như vậy, trong 6 ngày (3 ngày trước và 3 ngày sau lễ) kiểu gì cũng phải có 1 – 2 ngày có mưa. Nếu để ý kỹ sẽ thấy, mưa rửa đền không nói cụ thể rơi đúng vào ngày nào mà chỉ cần rơi vào 1 trong 3 ngày trước và 1 trong 3 ngày sau đều được coi là đúng. Vì thế, mưa rửa đền có thể rơi vào ngày 7/3, 8/3 hoặc 9/3; tương tự có thể rơi vào ngày 11/3 hoặc 12/3, 13/3 (âm lịch). Với xác suất 50%, mà chỉ cần 33%, kiểu gì cũng đúng (4). Dưới góc độ văn hóa chúng tôi không cho làm lạ khi mà hầu hết các lễ hội cầu mưa, cầu nước của người Việt vùng đồng bằng sông Hồng đều rơi vào khoảng từ cuối tháng 2, tháng 3 và đầu tháng 4 âm lịch như lễ hội cầu mưa xã Lạc Hồng (Văn Lâm, Hưng Yên) ngày 6-8/3 âm lịch, Hội làng Lệ Mật (Gia Lâm) ngày 23/3, hội chùa Dâu (Bắc Ninh) ngà 8/4, hội Gióng (Phù Đổng, Gia Lâm) ngày 9/4,… là những lễ hội liên quan đến nước. Như vậy, có thể hiểu ngày giỗ tổ Hùng Vương (10/3) là một lễ hội nằm trong nhóm lễ hội mùa màng phổ biến vùng Đồng bằng sông Hồng.
Vua Hùng thực sự là ai?
Vậy để trả lời cho câu hỏi đầu tiên, ông tổ được thờ ở đền Hùng là ai? Ta chỉ có thể biết chính xác khi xem bài vị của các vị được thờ ấy. Bài vị ghi danh hiệu, tước vị của vị thần được thờ, nó cũng giống như tên tuổi trên ảnh người đã khuất. Tìm hiểu di tích tín ngưỡng thờ vua Hùng tại Nghĩa Lĩnh, hiện thấy cả 3 ngôi đền (đền Thượng, đền Trung và đền Hạ) đều đặt 4 ngai thờ, trong đó có 3 ngai được mang các hiệu danh: Ất Sơn Thánh Vương vị, Đột Ngột Cao Sơn hiểm hùng ngao thống thủy điện an hoằng tế chiêu liệt ứng quảng huệ y diễn vệ hàm công thánh vương vị, Viễn Sơn Thánh Vương vị (đền Thượng) và Ất Sơn Thánh Vương Thánh vị, Đột Ngột Cao Sơn cổ Việt Hùng thị thập bát thế Thánh Vương Thánh vị, Viễn Sơn Thánh Vương Thánh vị (đền Hạ và đền Trung) (5). Như vậy các vị Ất Sơn thánh vương, Đột Ngột Cao Sơn, và Viễn Sơn thánh vương ấy đều mang chữ “sơn”nghĩa là núi, vậy không nghi ngờ gì nữa đó là ba vị thần núi được người đời sau mệnh danh là Hùng Vương – những vị TỔ của người Việt Nam. Đây là tín ngưỡng thờ thần núi phổ biến ở các vùng miền núi nước ta, một trong những tôn giáo nguyên thủy của người Việt (5).
Người ta cần gì hơn cần một biểu tượng?
Hằng năm cứ vào dịp giỗ tổ vua Hùng, người dân nô nức kéo về trẩy hội, làm một cuộc hành hương về nguồn lớn nhất trong năm. Tín ngưỡng thờ thần núi Hùng Vương đã được khéo léo đưa lên thành một biểu tượng cố kết sức mạnh cộng đồng dân tộc. Điều này thuận lợi cho việc tuyên truyền của tầng lớp thống trị. Trước 1975 cả hai miền Nam Bắc đều coi đó là ngày Quốc giỗ của dân tộc. Họ muốn hướng người dân tới một nhu cầu chung tìm về cội nguồn để dễ bề thu hút sự chú ý của đám đông và thể hiện tư tưởng của tầng lớp thống trị. Ở mọi thời đại, những người được coi là lãnh tụ đều là một biểu tượng khả ái của quần chúng. Đó là những người có thể thu hút đám đông, mang lại niềm tin cho đám đông về một nhu cầu nào đó. Nhưng khi những biểu tượng đó không còn tồn tại hoặc đã bị phai nhạt ở các thế hệ tiếp theo, sự khủng hoảng niềm tin bắt đầu lớn dần, người ta cần một niềm tin khác để bấu víu, đó có thể là thánh thần, đó cũng có thể là một người có năng lực đứng về phe quần chúng đáp ứng được những nhu cầu của quần chúng. Một số biểu tượng đó là Vua Hùng, Liễu Hạnh Công Chúa, Đức Thánh Trần,… hoặc là con người như Hồ Chí Minh (trước 1969), Võ Nguyên Giáp (trước 2013), và sau này là Nguyễn Bá Thanh (trước 2015), hiện nay là Đinh La Thăng (2016). Rõ ràng việc khủng hoảng niềm tin vào chính quyền đã kéo đám đông tới những biểu tượng mà họ nghĩ là có thể trông cậy được. Một đám đông duy tình sẽ dễ dàng chấp nhận những lời nói, hành động cụ thể hợp với đạo đức và tình người hơn những động thái chung chung viển vông của chính quyền.
Bất kỳ một dân tộc nào cũng đều cố xây dựng cho mình một vị thủy tổ là nguồn gốc dân tộc, người Việt cũng không ngoại lệ. Từ những đặc trưng tự nhiên tạo nên tín ngưỡng bản địa đáp ứng nhu cầu sinh kế của con người, hình ảnh Lạc Long Quân, vua Hùng đã trở thành biểu tượng cho nguồn gốc người Việt mang những mong muốn về sự sinh sôi nảy nở, cầu mưa, cầu nước là những nhu cầu cơ bản của cư dân nông nghiệp. Sự thực thì những vị sơn thần đó được thờ cúng ở nhiều nơi trên đất nước chứ không chỉ riêng vùng Phú Thọ, đó là một trong những tín ngưỡng bản địa nguyên thủy đầu tiên của người Việt. Do đó nó dễ dàng được chấp nhận hơn bất kỳ đạo lý tôn giáo nào khác được sùng bái tại Việt Nam. Hơn hết đó là một biểu tượng đang bị khuyết mà chính quyền đang cố gắng xây dựng trong khi những hiện thực xã hội ngày càng không đáp ứng được nhu cầu tâm lý của nhân dân.
16/04/2016